Giới thiệu

Được thành lập vào năm 2001, với mười lăm năm phát triển KhaiPhat Steel đã tạo dựng được thương hiệu trong ngành kết cấu thép và nhà thép tiền chế tại Miền Trung Việt Nam và thị trường Quốc Tế.
Năm 2011 đã đánh dấu một mốc quan trọng trong chặng đường phát triển của KhaiPhat Steel, việc đưa vào vận hành nhà máy chế tạo kết cấu thép công nghệ cao, với hệ thống dây chuyền sản xuất tự động có công suất 10,000 tấn/năm.
KhaiPhat Steel được biết đến là nhà thầu chất lượng cao, đáp ứng những sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế. Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của KhaiPhat Steel bao gồm:

 -   Thiết kế, sản xuất và lắp đặt nhà thép tiền chế, nhà hộp lắp ghép, nhà kho, nhà xưởng, showroom,…
 -   Sản xuất kết cấu thép, cấu kiện bằng thép, gia công kết cấu thép công nghiệp nặng .
 -   Xây dựng công trình công nghiệp và dân dụng
 -   Cho thuê nhà xưởng, nhà kho.

KhaiPhat Steel hiện đang cho các đối tác ở nước ngoài như LOGITEM và TACHI-S của Nhật Bản thuê nhà xưởng, nhà kho tại Đà Nẵng và sẽ tiếp tục xây dựng những nhà xưởng, nhà kho khác được thiết kế theo từng nhu cầu riêng của khách hàng .

1/ Tầm Nhìn 

Đến năm 2015, KhaiPhat Steel sẽ nằm trong top 10 thương hiệu sản phẩm kết cấu thép mạnh nhất của ngành tại

Việt Nam và có tỷ trọng doanh thu xuất khẩu chiếm 50% tổng doanh thu.

Biểu đồ tăng trưởng của KhaiPhat Steel:

2/ Sứ Mệnh: 

CHÚNG TÔI LUÔN HOÀN THIỆN ĐỂ ĐẠT ĐỈNH CAO:

* Trong thiết kế kỹ thuật và đưa ra những giải pháp sáng tạo, thông minh về kết cấu thép.
* Trong quản lý dự án : chất lượng sản phẩm, tiến độ dự án và dịch vụ chăm sóc kèm theo đem lại giá trị cho khách hàng.
* Trong việc nâng cao tiêu chuẩn chất lượng và trách nhiệm đối với cộng đồng.
* Trong việc khuyến khích nhân viên và phát huy mọi nguồn lực gia tăng giá trị cho khách hàng và cho cổ đông.

 
Quyết tâm xây dựng thương hiệu KhaiPhat Steel trở thành một thương hiệu uy tín, là niềm tin và điểm đến của nhà đầu tư.

- Với quyết tâm trên, ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ công nhân viên cam kết:

- Xây dựng, áp dụng và duy trì có hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2008 và chỉ tiêu 5 S của Nhật Bản.

- Đầu tư công nghệ mới và luôn sáng tạo để tạo ra giải pháp tốt nhất cho từng dự án triển khai, đem đến sự hài lòng cho từng đối tác, khách hàng.

- Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, mang một phong cách KhaiPhat Steel: Nỗ lực, đam mê sáng tạo, đoàn kết, tôn trọng.

- Đào tạo cán bộ công nhân viên KhaiPhat Steel vững về năng lực, đạt mục tiêu: Lao động có kỹ thuật, có năng suất và hiệu quả cao nhất.

 

Sơ đồ tổ chức của công ty :

 

Trải qua quá trình phát triển, với sự nỗ lực của Ban lãnh đạo cùng sự đồng lòng, phấn đấu của toàn thể cán bộ công nhân viên, KhaiPhat Steel đã đạt nhiều thành tích được ghi nhận:

1. Chứng nhận ISO 9001:2000

2. Chứng nhận cúp vàng ISO 2008

3. Bằng độc quyền giải pháp hữu ích "Sản phẩm tôn sóng đôi Khải Phát" dùng cho Công nghiệp

4. Giấy chứng nhận về những thành tựu phát triển thương hiệu

5. Cúp Bông hồng vàng dành cho nữ doanh nhân tiêu biểu ( Trao tặng cho Bà Hoàng Thị Hồng Nhạn - Tổng giám đốc của KhaiPhat Steel )

6. Bằng khen của UBND TP Đà Nẵng trao tặng

7. Biểu tượng vàng vì văn hóa doanh nhân Việt Nam

8. Siêu cúp thương hiệu mạnh và phát triển bền vững

9. Cúp vàng Thương hiện Việt do Viện NCKHKT Việt Nam cấp năm 2007, 2008, 2009

10. Bằng khen của Chủ tịch VCCI trao tặng về thành tích xuất sắc trong hoạt động SX, KD

11. Giấy chứng nhận Top ten ngành hàng: Nhà thép tiền chế

 Và nhiều giải thưởng danh giá khác:

 

Hồ sơ năng lực down
Hồ sơ năng lực down

Một số thiết bị máy móc của chúng tôi:

Trong thiết kế kỹ thuật và đưa ra những giải pháp sáng tạo, thông minh về kết cấu thép.

Sản phẩm

Nhà thép tiền chế, nhà hộp lắp ghép của KhaiPhat Steel được chế tạo riêng dựa trên cấu trúc và nhu cầu của khách hàng.

Chúng tôi có một hệ thống CAD/CAM và phần mềm thiết kế mới nhất Tekla Structures để tối ưu hóa chất lượng và sự linh động trong quá trình sản xuất

     

Quy trình sản xuất điển hình cụ thể được chia làm 3 giai đoạn:

1 - Thiết kế

2 - Chế tạo

3 - Lắp đặt

Tất cả các kết cấu thép đều có thể được chế tạo ở nhà máy nên chúng có thể dễ dàng được vận chuyển và lắp đặt nhanh chóng tại công trường bởi những công nhân lành nghề.

Chúng tôi luôn chú trọng đầu tư vào hệ thống chất lượng cũng như kỹ thuật công nghệ để mang lại những lợi ích nhất định cho khách hàng:

- Chi phí ban đầu thấp, tiết kiệm nguyên vật liệu

- Lắp dựng nhanh chóng và dễ dàng

- Tối đa hóa không gian sử dụng của nhà xưởng

- Tính linh hoạt cao, dễ dàng mở rộng và di dời.

Những khẩu độ của nhà thép tiền chế KhaiPhat Steel:

 

KhaiPhat Steel sản xuất, gia công Silo, Bunke cũng những kết cấu thép có độ phức tạp và yêu cầu kỹ thuật cao.

Các đối tác lớn của KhaiPhat Steel có thể kể đến như: Danieli (Italya), Doosan-Vina (Korea), KC Cottrell...

KhaiPhat Steel hiện đang cho các đối tác ở nước ngoài như:

LOGITEM và TACHI-S của Nhật Bản thuê nhà xưởng, nhà kho tại Đà Nẵng.

Hiện nay, KhaiPhat Steel vẫn tiếp tục xây dựng những nhà xưởng ,nhà kho khác được thiết kế theo từng nhu cầu riêng của khách hàng.

KhaiPhat Steel hiện đang giao dịch với các đối tác quốc tế cũng như đang tiếp cận các đối tác tiềm năng ở các  khu vực Châu Âu và Tây Á, Đông Á, Bắc Á và Đông Nam Á.

Khách hàng biết đến KhaiPhat Steel bởi vì :

- Chúng tôi đủ lớn mạnh để đáp ứng mọi yêu cầu của Quý vị và đủ nhỏ để có thể linh hoạt và duy trì ở mức độ cao  các dịch vụ và chăm sóc khách hàng.

- Chúng tôi tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế

- Chúng tôi luôn luôn giữ lời hứa của mình trong kinh doanh

- Chúng tôi cung cấp đên khách hàng các sản phẩm chất lượng cao với giá cả cạnh tranh.

- Chúng tôi trân trọng mối quan hệ lâu dài với các đối tác kinh doanh

                             

Trong quản lý dự án : chất lượng sản phẩm, tiến độ dự án và dịch vụ chăm sóc kèm theo đem lại giá trị cho khách hàng.

Dự án

Trở lại

DỰ ÁN KC COTTRELL CO . LTD

TRIỂN KHAI DỰ ÁN KC COTTRELL CO . LTD

 

 

 

 

DỰ ÁN CÔNG TY DOOSAN -VINA (KOREA)

 Công trình Sản xuất sản phẩm phụ kiện Công ty Doosan-Vina : Hàn Quốc - Việt Nam

Quy mô: 10,000 m2    Khối lượng: 10 tấn

 

DỰ ÁN LOGITEM - VIETNAM

Nhà kho Công ty Logitem - Việt Nam

DỰ ÁN CÔNG TY DANIELI - ITALYA

Sản phẩm xuất khẩu thị trường Italy – Công ty Danieli

 

 

DỰ ÁN CÔNG TY CP NHỰA CHINHUEI ĐÀI LOAN

Công trình nhà xưởng Công ty CP công nghiệp Nhựa Chin Huei: Đài Loan

DỰ ÁN HOPE NGHỆ AN

 

Trở lại

CÔNG TRÌNH HOPE NHÀ XƯỞNG

Trong việc nâng cao tiêu chuẩn chất lượng và trách nhiệm đối với cộng đồng.

Tuyển dụng

Chúng tôi cam kết với nhân viên một môi trường làm việc năng động, để mỗi người có thể cống hiến và biến những mơ ước của mình thành hiện thực.

Trong việc khuyến khích nhân viên và phát huy mọi nguồn lực gia tăng giá trị cho khách hàng, xã hội, nhân viên và môi trường.

                                               

stt Vị Trí Làm Việc Địa điểm làm việc

Vui lòng nhập thông tin vào form bên dưới!

Tài liệu - biểu mẫu

stt Loại tài liệu - biểu mẫu Loại file Tải về
1 Company Profile pdf down
2 CV Form doc down
Trong việc khuyến khích nhân viên và phát huy mọi nguồn lực gia tăng giá trị cho khách hàng và cho cổ đông.

Tin tức - sự kiện

Trở lại

Tình hình phát triển ngành thép của các nước G7, NIC và định hướng ngành thép Việt Nam đến năm 2020

I. Tình hình phát triển ngành thép của các nước G7, NIC

1. Các nước G7
    Các nước G7 là các nước công nghiệp phát triển từ lâu đời, do vậy ngành công nghiệp thép tại các nước này cũng được xây dựng và phát triển sớm. Cho đến nay, các nước G7 vẫn là những nước hàng đầu thế giới về ngành thép. Năm 2004, tổng sản lượng thép thô của Nhật Bản là 112 triệu tấn (đứng thứ 2 thế giới sau Trung Quốc); Hoa Kỳ đứng thứ 3 với 99 triệu tấn; Đức, Italia và Pháp lần lượt đứng thứ 6,10 và 11 với sản lượng tương ứng là 46, 28 và 21 triệu tấn thép thô.

    Đặc điểm của các nước G7 là những nước có nền kinh tế rất phát triển, GDP bình quân đầu người đều ở mức cao trên 20.000 USD. Tiêu thụ thép bình quân đầu người không còn ở mức cao (hiện trong khoảng 250-500 kg/người) do đã hoàn thành công nghiệp hóa. Mặc dù trải qua nhiều thời kỳ khủng hoảng, nhưng ngành thép các nước G7 vẫn được duy trì phát triển và hướng mạnh sang xuất khẩu. Sản lượng thép sản xuất không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn để xuất khẩu với tỷ lệ cao.

    Các nước G7 đều có ngành công nghiệp chế tạo phát triển với công nghệ cao, sản xuất hàng hóa xuất khẩu khắp thế giới. Ngành thép các nước này đều có khả năng sản xuất, cung ứng vật liệu chất lượng cao và đa dạng về chủng loại. Tại các nước này, sản phẩm thép dẹt được sản xuất nhiều hơn thép dài (tỷ lệ thép dẹt của Nhật Bản là 65%, Hoa Kỳ 69%, Đức 64%).

2. Các nước NIC (Hàn Quốc, Đài Loan…)

    Đây là những nước công nghiệp mới, có nền kinh tế tăng trưởng mạnh từ những năm 80 của thế kỷ trước. Cho đến thập kỷ 90, thu nhập GDP bình quân đầu người của các nước này đã đạt mức 10.000 USD (theo số liệu của ADB năm 2003), GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc và Đài Loan tương ứng là 10.300 USD và 12.800 USD. Trong bối cảnh chính trị, kinh tế thế giới những năm chiến tranh lạnh, ngành thép các nước này được Nhà nước dồn sức tập trung đầu tư ngay từ đầu và đã nhanh chóng lớn mạnh trở thành những nhà sản xuất thép hàng đầu thế giới như POSCO và China Steel (CSC).

    Sản lượng thép thô năm 2004 của Hàn Quốc và Đài Loan đạt 47,5 triệu tấn và 19,5 triệu tấn; đứng thứ 5 và thứ 13 trên thế giới. Mức tiêu thụ thép biểu kiến của 2 nước lần lượt là 47,2 triệu tấn và 22,1 triệu tấn. Như vậy, tỷ lệ sản xuất đáp ứng nhu cầu trong nước là rất cao (xấp xỉ 100% đối với Hàn Quốc và 88% đối với Đài Loan).

    Do các nước NIC đang ở giai đoạn đỉnh cao của quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế nên mức tiêu thụ thép bình quân đầu người cũng đang ở mức cao và sẽ còn duy trì một thời gian nữa (mức tiêu thụ thép bình quân đầu người năm 2003 của Hàn Quốc và Đài Loan tương ứng là 955 kg và 878 kg). Tỷ lệ sản xuất thép dẹt/thép dài của Hàn Quốc là 58% và của Đài Loan là 56/44.

II. Định hướng phát triển ngành thép Việt Nam đến năm 2020

1. Mục tiêu của ngành thép Việt Nam theo yêu cầu của các Nghị quyết Đại hội và các Nghị quyết Trung ương.

    Vai trò và tầm quan trọng của ngành công nghiệp thép đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đã được Đảng và Nhà nước sớm nhận thức rõ và hết sức quan tâm. Ngay từ những năm 1960, khi đất nước còn rất khó khăn, Đảng và Nhà nước đã dồn sức xây dựng Khu liên hợp Gang thép Thái Nguyên - chiếc nôi đầu tiên của ngành thép Việt Nam, tạo tiền đề phát triển công nghiệp thép Việt Nam. Tuy vậy, do những điều kiện khắc nghiệt của những năm tháng chiến tranh, ngành thép Việt Nam đã không có điều kiện phát triển được như mong muốn.

    Bước vào thời kỳ đổi mới xây dựng đất nước, Lãnh đạo Đảng đã có những chỉ đạo phát triển ngành công nghiệp thép Việt Nam. Ngày 12/4/1995, Bộ Chính trị đã có Thông báo số 112-TB/TW về Chiến lược phát triển sản xuất thép đến năm 2010, trong đó đã nhận định: “Thép là vật liệu chủ yếu của nhiều ngành công nghiệp, có vai trò quyết định tới sự nghhiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong những năm qua, ngành thép đã có nhiều cố gắng khai thác, cải tạo và mở rộng những cơ sở sản xuất cũ và liên doanh với nước ngoài tăng năng lực sản xuất và sản lượng thép hàng năm với tốc độ khá nhanh. Tuy nhiên, so với yêu cầu của đất nước thì mức sản xuất thép hiện nay còn rất thấp. Phát triển nhanh ngành thép là một yêu cầu khách quan, cấp bách và có ý nghĩa chiến lược.”. Đồng thời Bộ Chính trị đã chỉ ra nhiệm vụ cụ thể cho ngành thép: “Gấp rút chuẩn bị những cơ sở sản xuất thép liên hợp hoàn chỉnh, công suất tương đối lớn đi từ quặng, luyện kim đến khâu cán ra các sản phẩm… phục vụ nhu cầu ngày một tăng của sự nghiệp công nghiệp hóa”.

    Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, phần Chiến lược phát triển kinh tế  - xã hội 2001-2010 đã nêu rõ định hướng phát triển liên quan đến công nghiệp thép như sau: “Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng: dầu khí, luyện kim, cơ khí…” và “đáp ứng đủ nhu cầu về thép xây dựng”

    Trong phần Phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005, Nghị quyết Đại hội IX cũng đã xác định mục tiêu cho ngành thép đến năm 2005: “Tiếp tục triển khai đầu tư chiều sâu các cơ sở luyện cán thép hiện có. Đầu tư xây dựng mới 1 – 2 cơ sở sản xuất phôi thép, nâng năng lực sản xuất phôi từ 40 vạn tấn năm 2000 lên 1 – 1,4 triệu tấn năm 2005. Xây dựng nhà máy thép cán nguội và nhà máy thép cán nóng để sản xuất thép tấm, thép lá. Nghiên cứu và chuẩn bị xây dựng cơ sở luyện thép liên hợp từ quặng trong nước và nhập khẩu. Sản lượng thép cán các loại năm 2005 vào khoảng 2,7 triệu tấn”.

    Như vậy, chủ trương, quan điểm của Đảng về định hướng phát triển và mục tiêu nhiệm vụ đối với ngành thép là rõ ràng và cụ thể.

2. Đánh giá thành tựu mà ngành thép Việt Nam đã đạt được trong những năm qua

    Trong những năm qua, thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị và đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước, ngành Thép Việt Nam (bao gồm Tổng công ty Thép Việt Nam và các đơn ví sản xuất thép thuộc các thành phần kinh tế khác) đã tích cực đầu tư chiều sâu và đầu tư mới. Nhờ đó, ngành thép đã có bước tăng trưởng mạnh và đạt được những thành tựu quan trọng:

    - Đã đầu tư chiều sâu và đầu tư mới một số cơ sở sản xuất phôi thép, nhờ đó tăng năng lực sản xuất phôi thép cả nước từ chỗ chỉ có 400.000 tấn/năm vào năm 2000 lên mức 1 triệu tấn/năm vào năm 2004 và dự kiến nâng lên 1,5 triệu tấn/năm vào năm 2005 (đạt mục tiêu kế hoạch).

    - Đến năm 2003, sản lượng thép cán cả nước đã đạt 2,8 triệu tấn (hoàn thành trước 2 năm so với kế hoạch). Sản lượng thép cán cả nước năm 2004 đạt 2,9 triệu tấn và ước năm 2005 sẽ đạt 3 triệu tấn. Tổng công suất lắp đặt các nhà máy cán thép xây dựng của cả nước đến nay đã đạt được khoảng 5,8 triệu tấn/năm và hoàn toàn có năng lực đáp ứng nhu cầu trong nước về thép xây dựng (đạt yêu cầu của Nghị quyết Đại hội IX).

    -  Về cơ cấu sản phẩm, bên cạnh sản phẩm thép xây dựng truyền thống, đến nay ngành thép Việt Nam cũng đã sản xuất được thép ống, tôn mạ các loại đáp ứng cho các công trình xây dựng. Dự án Nhà máy thép cán nguội với công suất 205.000 tấn/năm, là nhà máy sản xuất sản phẩm thép dẹt đầu tiên ở Việt Nam, đã hoàn thành xây dựng và đi vào sản xuất từ giữa năm 2005 (đạt mục tiêu kế hoạch).

3. Quan điểm phát triển ngành thép Việt Nam

    Định hướng phát triển ngành thép gắn liền với định hướng phát triển kinh tế Việt Nam. Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế gay gắt và xuất phát điểm thấp của Việt Nam thì quan điểm phù hợp nhất với điều kiện đất nước là:

    - Phát triển nền kinh tế Việt Nam theo định hướng xuất khẩu: cơ cấu công nghiệp cần được định hướng vào các ngành chế tạo, gia công chế biến hàng xuất khẩu và chuyển dịch theo hướng mở rộng sang các ngành phụ trợ hoặc tham gia vào phân công sản xuất trong khu vực để sử dụng được lợi thế về lao động và nâng cao được giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Sự phát triển các ngành công nghiệp chế tạo cũng như công nghiệp phụ trợ sẽ tạo ra nhu cầu sử dụng thép cho các ngành này. Mặt khác, thu nhập từ lĩnh vực xuất khẩu sẽ góp phần làm gia tăng nhu cầu sử dụng thép cho công nghiệp xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng và các ngành sản xuất trong nước khác.

    - Trên cơ sở gia tăng nhu cầu sử dụng thép cho nền kinh tế, ngành thép Việt Nam sẽ được phát triển theo định hướng ban đầu là thay thế nhập khẩu (ít nhất là cho đến năm 2020). Điều này là phù hợp bởi vì ngành thép Việt Nam chưa thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế. Nói như vậy không có nghĩa là ngành thép Việt Nam sẽ không xuất khẩu, mà vẫn phải tìm kiếm cơ hội xuất khẩu khi có điều kiện. Nhưng mục tiêu chủ yếu vẫn phải xác định là thị trường nội địa.

    - Trong điều kiện thiếu vốn đầu tư của nền kinh tế, việc phát triển ngành thép Việt Nam cần phải tiến hành theo từng bước. Do vậy, mỗi bước đi cần được cân nhắc có tính đến các mối liên kết tổng thể hệ thống trong ngành để đảm bảo cơ cấu sản xuất phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của thị trường trong từng giai đoạn. Bên cạnh đó, nhất thiết phải lựa chọn công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại để đảm bảo tính cạnh tranh và tiết kiệm đầu tư.

4. Khả năng phát triển trong 10-15 năm tới

    Căn cứ vào các chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam hiện nay và dự kiến tỷ lệ tăng trưởng trong những năm tới, có thể dự báo GDP bình quân đầu người của Việt Nam tới năm 2020 sẽ đạt khoảng 1.500 USD. Như vậy, trong vòng 15 năm tới, nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành thép Việt Nam nói riêng có khả năng phát triển tương đương mức như Nhật Bản năm 1960, Hàn Quốc năm 1980 và như Thái Lan những năm 1990.

    Một số điểm có thể coi là thuận lợi cho ngành thép Việt Nam là: có thị trường tiêu thụ nội địa đang phát triển và có nguồn tài nguyên quặng sắt. Vì vậy, nếu trong quá trình mở cửa và hội nhập chúng ta tiếp thu những bài học của ngành thép các nước (nhất là Thái Lan), có chính sách thích hợp thu hút và huy động được đầu tư nước ngoài vào ngành thép thì ngành thép Việt Nam có thể phát triển cao hơn mức Thái Lan hiện nay.

5. Các tiêu chí ngành thép đạt tiêu chuẩn công nghiệp

    Việt Nam đặt ra mục tiêu phấn đấu trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, công nghiệp thép được xác định một số tiêu chí như sau:

    - GDP bình quân đầu người: 1.500 USD

    - Nhu cầu tiêu thụ thép: 21 triệu tấn (dài/dẹt=50/50)

    - Tiêu thụ thép bình quân đầu người: 200 kg

    - Sản xuất thép thô: 10 triệu tấn.

    - Sản xuất thép cán trong nước đáp ứng 50% nhu cầu thép dẹt và 80% nhu cầu thép dài.

    - Cơ cấu sản xuất sản phẩm dài/dẹt là: 62/38.

    - Công nghệ: xây dựng được nhà máy thép liên hợp BF – BOF 4,5 triệu tấn/năm và một vài trung tâm sản xuất thép lò điện Mini – mill (tỷ lệ thép sản xuất lò  BOF/EAF là 60/40).      

Một số ưu điểm của nhà thép tiền chế

Một số ưu điểm của nhà thép tiền chế

Ưu điểm của nhà thép tiền chế, những ưu điểm của nhà thép tiền chế so với loại khác

Nhà thép tiền chế là một phương án lý tưởng để sử dụng trong xây dựng công nghiệp. Một trong những lợi thế của nhà tiền chế là chi phí thấp, chất lượng được kiểm soát nghiêm ngặt, và giao hàng nhanh chóng cùng nhiều lợi ích khác.

 

Ưu điểm của nhà thép tiền chế với nhà thép khác:


Việc tiết kiệm vật liệu tại các vùng ít chịu lực của các cấu kiện khung chính đã giúp Nhà thép tiền chế kinh tế hơn so với nhà thép thường đặc biệt là các nhà thấp tầng với độ rộng dưới 60m và chiều cao mép mái dưới 30m. Hơn nữa, hệ thống Nhà thép tiền chế chỉ sử dụng các mối liên kết đã được thiết kế sẵn và các nguyên vật liệu đã được xác định trước để thiết kế và sản xuất các kết cấu nhà. Vì vậy, nó làm giảm đáng kể thời gian thiết kế, sản xuất và lắp dựng.

 

Ưu điểm của nhà thép tiền chế so với các loại khác:


- Trọng lượng nhẹ so với các vật liệu khác giúp làm giảm áp lực tải trọng
- Lắp dựng đơn giản, nhanh chóng, bất chấp mọi điều kiện thời tiết
- Tiết kiệm vật liệu phụ (so với các loại nhà cố định truyền thống)
- Tận dụng tối đa không gian nhà xưởng
- Tính đồng bộ cao
- Dễ mở rộng quy mô
- Tiết kiệm thời gian, tiền bạc

 

Nhà thép tiền chế có rất nhiều ưu điểm so với các loại nhà khác

 

Đặc biệt nhà thép tiền chế cách nước tốt bằng cách sử dụng hệ thống mái mối đứng, các thành phần thoát nước và diềm mái. Đây là một hệ thống nhà cực kỳ linh hoạt, cho phép trang bị bên trong để đáp ứng mọi công năng và trang trí bên ngoài để thỏa mãn thiết kế kiên trúc đẹp.

 

Chính những lý do trên khiến nhà thép tiền chế là loại nhà lý tưởng để sử dụng làm nhà xưởng, nhà kho, nhà trưng bày, siêu thị….

Nhà thép tiền chế: Cuộc cách mạng kết cấu

Nhà thép tiền chế là cuộc cách mạng đột phá trong lĩnh vực kết cấu xây dựng.

Giá thành rẻ, chịu lực tốt, dễ thay đổi kết cấu, thi công nhanh, tuổi thọ cao... Những đặc tính trên đã khiến nhà thép tiền trở thành cuộc cách mạng thay đổi diện mạo nhà xưởng sản xuất, tạo đột phá trong lĩnh vực kết cấu xây dựng. Nhà xưởng được xây dựng bởi những nguyên liệu thông thường đã được thay thế bằng nhà thép tiền chế với nhiều tính năng vượt trội.

Thị trường nhà thép tiền chế có thể áp dụng được trong hai lĩnh vực chính: trong xây dựng công nghiệp, gồm nhà xưởng, nhà kho, nhà máy sản xuất, nhà chứa máy bay hoặc các kết cấu khác cấu tạo bằng thép; và trong xây dựng dân dụng với nhà ở dân dụng, văn phòng, khách sạn, nhà trưng bày xe hơi.

Theo khảo sát của Công ty Reed Tradex (Thái Lan), Việt Nam có khả năng trở thành trung tâm sản xuất của khu vực Đông Nam Á nên nhu cầu về nhà thép tiền chế sẽ rất cao. Hơn nữa, xu hướng sử dụng nhà tiền chế cũng đang lấn sân sang lĩnh vực dân dụng. Phong cách kiến trúc hài hòa giữa kết cấu thông thường và khung thép tiền chế, kính xây dựng đang tạo nên tính độc đáo trong kiến trúc hiện đại.

Từ công nghiệp...

Nền sản xuất công nghiệp đang phát triển mạnh nên nhu cầu nhà thép tiền chế sẽ rất lớn. Trong xu thế đó, một số thương hiệu về nhà thép tiền chế đã xuất hiện ở Việt Nam như Đại Dũng, Trung Lâm, Tanavico, PEB Steel, Kirby, Atad, Zamil, SeiCo, Huva...

Theo ông Joseph Mathew, Tổng Giám đốc Kirby Việt Nam, trong các năm 2010-2013, mức tăng trưởng của thị trường nhà thép tiền chế là từ 15-17%/năm. “Ưu điểm của nhà thép tiền chế là chi phí bảo dưỡng thấp và dễ dàng mở rộng thêm trong tương lai nên các doanh nghiệp sẽ tăng cường sử dụng loại hình này thay vì xây dựng nhà xưởng bằng bê tông cốt thép. Hiện tại, nhà thép tiền chế chiếm hơn 70% nhà xưởng công nghiệp”, ông nhận định.

Một đơn vị nổi bật khác trong lĩnh vực này là Zamil Steel. Trong năm 2013, doanh thu Zamil Steel tuy chỉ tăng 15% so với năm trước đó nhưng lợi nhuận lại tăng tới 60%. Đây là kết quả kinh doanh tốt nhất trong suốt 20 năm có mặt tại thị trường Việt Nam của doanh nghiệp này. Ông Kumar Narasimhan, Giám đốc Zamil Steel, cho biết mục tiêu sắp tới của Công ty là tiếp cận nhiều hơn các dự án lớn của Chính phủ, và đầu tư hơn nữa cho dòng thép kết cấu phục vụ các công trình đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật phức tạp.

Còn PEB Steel vừa mới khánh thành nhà máy sản xuất nhà thép tiền chế thứ năm tại Khu Công nghiệp Đông Xuyên (Bà Rịa - Vũng Tàu). Công suất của nhà máy này là 120.000 tấn/năm, gấp đôi so với năng lực của 4 nhà máy hiện tại.

Đại diện PEB Steel cho rằng vào năm 2015, với việc Việt Nam dự kiến ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU, thị trường Việt Nam được dự báo sẽ đóng vai trò trung tâm trong hoạt động sản xuất tại Đông Nam Á. Do đó, việc chuyển bị cho cơ sở hạ tầng sản xuất sẽ thúc đẩy nhu cầu nhà thép tiền chế phát triển vượt bậc trong thời gian tới.

Ông Adib Kouteili, Giám đốc Điều hành của PEB Steel, cho biết Công ty đã bắt tay với Công ty Nippont Steel (Nhật) và POSCO (Hàn Quốc). Những đơn vị này vừa là đối tác, vừa là cổ đông lên kế hoạch xây dựng những nhà máy tiếp theo đáp ứng nhu cầu nhà thép tiền chế ngày càng cao tại Việt Nam.

...đến dân dụng

Ngoài chi phí thấp và tính tiện lợi thì nhà thép tiền chế cũng tạo được sự sang trọng cho một ngôi nhà hay cao ốc văn phòng. Sự kết hợp hài hòa giữa xây dựng thông thường và khung thép tiền chế đã tạo một lối không gian kiến trúc hiện đại. Đặc biệt, các cao ốc văn phòng hiện nay sử dụng khung thép và kính xây dựng như là giải pháp tối ưu.

Một kiến trúc sư người Mỹ cho rằng, khái niệm “nhà tiền chế” thường khiến người ta nghĩ ngay đến loại hình nhà ở di động, có thể lắp ghép và vận chuyển dễ dàng theo kiểu nhà ở được sản xuất hàng loạt từ những bộ phận rời và gắn kết lại với nhau theo mẫu. Theo đó, người ta cũng nghĩ là kiểu dáng của nhà tiền chế khô cứng, thô kệch, kèm theo sự bất tiện của lối sống tạm bợ.

Quan niệm này hiện không còn cơ sở khi những nhà kiến trúc đã có nhiều thử nghiệm với một thái độ ứng xử khác, mà ở đó, mô hình nhà tiền chế được xem như một phong cách nhà ở mới, hiện đại, đáp ứng được lối sống tân tiến. Họ đưa ra những kiểu thiết kế đẹp, những mặt bằng không gian mở rộng và tiện nghi. Như thế, “nhà tiền chế” gắn liền với khái niệm có “phong cách” hơn so với trước đây. Giới kinh tế tin rằng kiến trúc hiện đại sẽ phát triển và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn từ mảng nhà thép tiền chế trong xây dựng nhà ở từng xuất hiện rất lâu nhưng đã bị bỏ quên.

Dựa trên sự phát triển vượt bậc trong kỹ thuật về vật liệu và thi công, giới kiến trúc và xây dựng ngày nay đang thay đổi những khái niệm “dễ dàng, sẵn dụng, rẻ tiền” của nhà ở tiền chế ngày trước thành “tiện dụng, tiện nghi, tiết kiệm”. Và bằng cách thêm vào những đường nét của kiến trúc hiện đại và lối bố trí cũng như trang trí nội thất bắt mắt, các kiến trúc sư đã đẩy không gian nhà ở mới này lên thành một phong cách mới.

Nắm bắt được xu thế này, PEB Steel, Kirby, Zamil... đã tung ra thị trường nhiều mẫu nhà tiền chế xây dựng văn phòng, nhà hàng... phù hợp thị hiếu.

Những năm gần đây, PEB Steel đã triển khai áp dụng nhà thép tiền chế cho các công trình dân dụng như kết cấu thép trên đỉnh tháp tòa nhà VietcomBank, tòa nhà văn phòng và trưng bày sản phẩm Malloca (7 tầng), trung tâm thương mại Aeon, siêu thị Maximark tại Cần Thơ. Chắc chắn, đây cũng sẽ là xu thế xây dựng mới được ứng dụng rộng rãi trong thời gian tới.

Tổng quan về ngành thép Việt Nam

Tổng quan về ngành thép Việt Nam

Mời các bạn đọc tiếp: Tổng quan về ngành thép Việt Nam - Phần 2

Định hướng phát triển đến năm 2020 của Việt Nam:

Quan điểm phát triển ngành Thép là từng bước đáp ứng nhu cầu thông thường về Thép xây dựng của Việt Nam để không bị phụ thuộc hoàn toàn vào nước ngoài.

 

Trong giai đoạn đầu sẽ phát triển các khâu hạ nguồn trước như sản xuất thép xây dựng, thép cán nóng, cán nguội đi từ thép phôi, thép nhập khẩu và một phần thép phế liệu. Trong quá trình phát triển sẽ tiếp tục đầu tư chiều sâu các cơ sở hiện có, nghiên cứu phát triển khâu thượng nguồn có sử dụng quặng sắt trong nước và một phần quặng sắt nhập khẩu phù hợp với trình độ công nghệ đã thuần thục. Dưới đây là những quan điểm cụ thể:

 

Thép là vật tư chiến lược không thể thiếu của ngành công nghiệp, xây dựng và quốc phòng, có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ngành thép cần được xác định là ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển.

 

Trên cơ sở phát huy có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản sẳn có trong nước, kết hợp với nhập khẩu một phần quặng và phôi của nước ngoài, xây dựng khu liên hợp luyện kim công suất 4-5 triệu tấn thép /năm để từng bước đáp ứng nhu cầu thép trong nước cả về chủng loại và chất lượng. Trong giai đoạn đầu tập trung phát triển các khâu hạ nguồn như cán thép xây dựng, thép cán tấm nóng, cán tấm nguội, sau đó cần nghiên cứu phát triển khâu sản xuất thượng nguồn để sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên trong nước.

 

CPT Việt Nam - Công ty sản xuất thi công nhà thép tiền chế tại Hà Nội uy tín.

 

Kết hợp chặt chẽ giữa phát huy nội lực và tranh thủ tận dụng có hiệu quả các nguồn vốn từ nước ngoài (trước hết về thiết bị và công nghệ). Kết hợp hài hoà giữa yêu cầu giữ vững độc lập tự chủ về kinh tế với xu thế hội nhập, toàn cầu hoá; tự chủ nhưng không bỏ qua các cơ hội hợp tác và phân công lao động quốc tế để đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành thép. Đa dạng hoá vốn đầu tư cho ngành thép. Vốn đầu tư của nhà nước chủ yếu dành cho phát triển các nguồn quặng trong nước và các công trình sản xuất thép tấm, thép lá;

 

 

Về công nghệ: Trong giai đoạn đến 2020 vẫn sử dụng công nghệ truyền thống là sản xuất lò cao luyện thép. Đồng thời tích cực nghiên cứu áp dụng các công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại để phát triển ngành thép. Đối với khu liên hợp luyện kim khép kín có vốn đầu tư lớn và thời gian xây dựng kéo dài, có thể triển khai trước khâu sản xuất cán kéo. Sau sẽ phát triển tiếp khâu sản xuất phôi cán từ quặng.

 

 

Nhà nước có chính sách hỗ trợ tích cực cho ngành thép trong khuôn khổ cho phép của các cam kết thương mại và hội nhập quốc tế.

 

 

Tham gia AFTA đồng nghĩa với việc xoá bỏ hàng rào thuế quan, ngành thép phải củng cố mở rộng từ khâu sản xuất đến lưu thông phân phối với các ngành kinh tế khác để mở rộng thị trường và cạnh tranh được ở thị trường trong nước và trên thế giới.

 

 

Đi đôi với việc đầu tư xây dựng các nhà máy hiện đại, phải hết sức coi trọng đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ, hiện đại hoá các cơ sở hiện có lên ngang bằng tiên tiến trong nước và khu vực.

 

Quan tâm công tác đào tạo nhân lực và phát triển khoa học công nghệ phục vụ phát triển ngành.

 

 

Mục tiêu phát triển ngành thép đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020:

 

Mục tiêu tổng quát: Phát triển ngành thép Việt Nam nhanh chóng trở thành một ngành phát triển hoàn chỉnh theo công nghệ truyền thống, sử dụng tối đa nguồn quặng sẵn có trong nước, trên cơ sở xây dựng khu liên hợp luyện kim công suất 4-5 triệu tấn thép /năm, sử dụng tối đa và có hiệu quả nguồn nguyên liệu khoáng trong nước, áp dụng các công nghệ mới hiện đại đang được sử dụng trên thế giới, cố gắng thoả mãn tối đa nhu cầu trong nước về thép cán (cả về số lượng, chủng loại, quy cách và chất lượng sản phẩm). Từ thay thế nhập khẩu tiến tới xuất khẩu sản phẩm thép. Phấn đấu đến 2020 sẽ có một ngành thép phát triển bền vững với tốc độ tăng trưởng cao, bảo đảm tốt về chất lượng, đầy đủ về số lượng và chủng loại sản phẩm thép, đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Như vậy nhu cầu thép vào năm 2010 là 10 triệu tấn; năm 2015 là 16 triệu tấn và năm 2020 là 20 triệu tấn. Trong đó sản xuất trong nước theo mốc năm tương ứng chỉ đạt 51%; 61%; 62% và 70% vào năm 2020.

Liên hệ

KHAIPHAT STEEL

Địa chỉ: Đường số 5 - KCN Hòa Khánh - Đà Nẵng

Điện thoại: (+84) 5113 734 889

Fax: (+84) 5113 736 626

Hỗ trợ: (+84) 5113 739 778

Email: business@khaiphatsteel.com